$nbsp;
20-12-2018 12:50

Câu đối Tết bắt nguồn từ đâu, có ý nghĩa như thế nào, vì sao có tập tục dãn chữ “Phúc” ngược ? Phong tục tập quán Việt Nam có tục này không ? Hãy cùng xemboi.com.vn tìm hiểu.

Theo phong tục tập quán Trung Quốc họ rất ưa thích màu đỏ, bởi quan niệm củahọ màu đỏ là màu tượng trung cho niềm vui, cho sự may mắn. Do đó vào những ngày vui, ngày lễ màu đỏ là mà rất thường thấy. Vào mỗi dịp Tết, câu đối Tết đro rực đã trở thành một vật phẩm không thể thiếu trong mỗi dịp tết cổ truyền ở Trung Quốc.

Mỗi năm cứ tới tháng Chạp là ở các sạp hàng ngoài trợ đã bày bán câu đối Tết . Từng đôi câu đối đỏ được treo kín các cưa hàng đung đưa phấp phới trong gió đông lạnh giá, khiến người ta ngập tràn một cảm giác, âm áp, thanh bình.

Nguồn gốc câu đối Tết 

Câu đối (Xuân liên) là một hình thức văn học của người Trung Quốc, còn gọi là “Môn đối”, “Xuân thiếp”, “Đối liên”, “Đào phù”, “Đối tử”.  Ghi viết câu đối chữ nghĩa cần phải nắn nót, đối ngâu, cô động và tinh xảo, nhằm miêu tả được bối cảnh của thời đại và gửi gắm những hy vọng tốt lành.

Mỗi năm khi Tết đến xuân về, dù là ở thành thị hay vùng thôn quê, nhà nhà đều chọn đôi câu đối đỏ dán lên cánh của hoặc nơi phòng khách nhằm tăng thêm không khí vui vẻ ngày Tét.  Câu đối thường được dán vào dịp giáp Tết nên người Trung Quốc thường gọi câu đối là “Xuân Liên”

câu đối tết

câu đối tết

Nguồn gốc tên “Xuân Liên” của câu đối Tết

Câu đối Tết đã có lịch sử hàng nghìn năm thế nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa thể xác định rõ tên gọi “Xuân liên” bắt đầu từ khi nào. Chỉ biết, xa xưa nhất nguồn gốc câu đối là “Đào phù”. Theo sách Yên kinh tuế thời ký, thì “Câu đối, tức là đào phù vậy” (Xuân liên, tức đào phù dã).

Vậy, “Đào phù” là gì?  Trong cuốn sách Hoài nam tử của Hoài Nam vương Lưu An thời Tây Hán (206 Tr.C-23) có chép rõ : Đào phù chính là 2 mảnh gỗ đào dài 7-8 tấc, có độ rộng hơn 1 tấc , trên đó vẽ hai vị môn thần là “Thần Trà” và “Úc Lũy”, rồi treo lên hai cánh cửa chính để xua đuổi ác quỷ.

Mãi tới thế kỷ X,  ở nước Hậu Thục, vào năm Quảng Chính thứ 27 (năm 964), vào dịp Tết, chúa Hậu Thục là Mạnh Sưởng đột nhiên hạ lệnh cho quần thần viết 2 câu lên đào phù để thử tài năng của họ. Thế nhưng những chữ viết trên tấm đào phủ sau khi dâng lên đều khiến cho Mạnh Sưởng không hài lòng. Thế là, ông ta tự viết 2 câu trên đào phù: “Tân niên nạp dư khánh – Gia tiết hiệu trường xuân” (Tạm dịch: Năm mới hưởng niềm vui – Tiết lành báo xuân đến”). Và đây chính là câu đối cổ nhất được ghi lại và còn lưu truyền tới nay ở Trung Quốc.

Nhà thơ nổi tiếng thời Tống (960-1297) là Vương An Thạch có hai câu trong bài thơ Nguyên đán:

“Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật

Tổng bả tân đào hoán cựu phù”

Dịch nghĩa:

(Vừng đông rạng sáng vừa đến với nghìn nhà vạn hộ

Ai nấy đều thay đào phù cũ, treo đào phù mới)

Như vậy dễ dàng nhận thấy, thời đó người ta vẫn gọi câu đối là “Đào phù”.  Và mãi cho đến thời Minh (1368 – 1644), “Đào phù” mới được gọi là “câu đối” (Xuân liên).

Tương truyền, triều Minh Thái Tổ, nhân một năm khi Tết đến, Chu Nguyên Chương đã ra chỉ thị tới dân chúng cả nước rằng, nhà nào cũng phải treo đôi câu đối Tết ở trước của để biểu thị cho niềm vui đón chào năm mới. Sau đó khi ông hóa trang vi hành, đọc được những câu đối với nỗi dung vô cùng phong phú thì cảm thấy rất mãn nguyện. Đi tiếp, Chu Nguyên Chương thấy một gia đình mà trên cửa vẫn chưa có câu đối: Hỏi thăm ra ông biết được đó là gia đình của một người chuyên làm nghề hoạn lợn, chưa nhờ được người viết câu đối. Vị hoàng đế này bèn sai tùy tùng lấy giấy bút, rồi vung tay viết đôi câu đối tặng chủ nhà: “Song thủ tịch khai sinh tử lộ / Nhất đao cát đoạn thị phi căn”, nghĩa là: Hai tay động đến đường sinh tử / Một nhát đi đời gốc thị phi!. Ý tứ câu đối này vô cùng xác đáng, chữ dùng cực kỳ khéo léo, lại rất hài hước. Đủ thấy, Chu Nguyên Chương quả là một “đầu lĩnh” về câu đối vậy.

Sau ngày đó, việc viết câu đối được lan tỏa trên nhiều địa phương, lâu dần trở thành phong tục, và phạm vi ứng dụng của câu đối ngày Tết cũng ngày càng mở rộng.  Cho tới đời nhà Thanh, tính tư tưởng và tính nghệ thuật của câu đối đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, thể hiện rất rõ qua cuốn Hạm liên tùng thoại của Lương Chương Củ, chuyên bàn về nguồn gốc và đặc sắc của các loại câu đối.

Các loại câu đối Tết 

Nói đến câu đối thì có khá nhiều chủng loại, tuy nhiên căn cứ vào vị trí dán câu đổi có thể chia thành các laoị như sau :

“Môn tâm”, dán ở chính giữa cánh cửa;

“Khuông đối”, dán trên 2 cánh cửa phải và trái;

“Hoành phí”, dán ngang trên dạ cửa;

“Xuân điều” thì căn cứ vào nội dung khác nhau, có thể dán ở những chỗ thích hợp.

Mỗi năm cứ vào buổi sáng 30 tháng chạp, lũ trẻ sẽ bưng bát hồ dán, tay cầm chiếc chổi nhỏ làm bằng cây lăng tiêu, hòa cùng vào không khí vui vẻ, tưng bừng nhộn nhịp của không khí đón xuân, cùng người lớn bắt đầu dán câu đối. Nhiều gia đình cũng lựa chọn dán câu đối trước một ngày bởi lo lắng thời tiết có thể thay đổi khiến hồ đồng lại khiến việc dán câu đối trở nên khó khăn hơn.

Nguồn gốc của chữ Phúc dán ngược

Mỗi dịp Tết đến, xuân về, ở mỗi gia đình đều có treo câu đối Tết. Thế nhưng điều khiến cho mọi người đặc biệt chú ý đó là bên cạnh những câu đối đỏ rực, còn có đủ các loại chữ “Phúc” với kích cỡ to nhỏ khác nhau. Dán chữ Phức, cũng là một tập tục khá lâu đời trong dân gian như câu đối. Trong sách Mộng lương lục, có ghi chép về việc “Dán chữ phúc” (Thiếp xuân bài). Ở đây, “Xuân bài” chính là chữ “Phúc” được viết trên giấy màu đỏ vậy.

câu đối tết

câu đối tết

Vào thời nhà Thanh (1644-1911), mỗi năm vào ngày mùng 1 tháng Giêng, tại gian nhà sưởi ở phía Tây cung Càn Thanh, hoàng đế thường tổ chức gặp mặt một số vương công đại thần, ban cho họ chữ “Phúc” do chính tay hoàng đế viết, gọi là “Ban phúc” (Tứ phúc). Đây chính là việc làm có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ tập tục dán chữ “Phúc” của nhân dân Trung Quốc vào dịp Tết.

“Phúc” là một trong những chữ lâu đời nhất của Trung Quốc, từng xuất hiện trong giáp cốt văn, có hình dáng của đồ đựng rượu để tượng trưng cho cuộc sống phong lưu của người xưa. Chữ “Phúc” ngày nay, do bộ “lễ” ( 礻)  và 3 chữ “nhất” (一), “khẩu” (口), “điền”  (田) tổ thành. Trong đó, bộ “lễ” chỉ Thiên thần và Địa thần; chữ “điền” chỉ việc cày ruộng, săn bắn; chữ “nhất” chỉ sự Khởi thủy, Duy nhất, sau hóa thành vạn vật; chữ “khẩu” thì theo sách Thuyết văn giải tự: “Khẩu, đó là bộ phận để con người ăn và nói vậy” (khẩu, nhân sở dĩ ngôn thực dã). Như vậy có thể thấy, về tự dạng, chữ “Phúc” là biểu hiện sự cầu mong của con người, sao cho có ruộng có vườn và một đời sống no đủ.

Ngoài hàm nghĩa trên, chữ “Phúc” dán trong dịp Tết còn có nghĩa là “Hạnh phúc”, “Số may” hoặc “Vận may”. Dán chữ “Phúc” với mong muốn được gửi gắm ước vọng, niềm mong mỏi của mỗi con người mỗi gia đình về một cuộc sống luôn hạnh phúc, tươi sáng trong tương lai. Nhằm thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn niềm hy vọng này, nhiều người còn dán ngược chữ “Phúc” để biểu thị ý nghĩa “Hạnh phúc đã đến”, “Vận may đã đến”. Vì sao khi dán ngược, chữ “Phúc” lại có hàm nghĩa như trên?

Tương truyền, vào thời nhà Thanh, có một năm khi chuẩn bị Tết, viên đại quản gia trong phủ Cung thân vương theo lệ, đã viết rất nhiều chữ “Phúc”, rồi sai người đi dán khắp nơi trong phủ. Chẳng may, có một người hầu không biết chữ đã dán ngược chữ “Phúc” lên chính giữa cánh cửa lớn của vương phủ, khiến người qua lại đều buột miệng: “(chữ) Phúc (dán) ngược rồi” (Phúc đảo liễu  福 倒 了). Nghe vậy, đám thân vương quý tộc và các mệnh phụ phu nhân thay vì giận dữ lại tỏ ra vô cùng hoan hỉ, coi đó là điềm lành, bèn cho gọi người hầu đến trọng thưởng! Thì ra, vốn dĩ trong tiếng Hán, chữ “đảo” (倒) nghĩa là “ngược”, “quay lại” với chữ “đáo” (到) có nghĩa là “đến”, “tới” lại có cùng âm đọc là “dào”, nên khi nghe ai đó nói “Phúc đảo liễu” thì người nghe hoàn toàn có thể hiểu là “Phúc đến rồi” (Phúc đáo liễu: 福 到了). Thế là kể từ đó – theo các nhà nghiên cứu văn hóa Trung Quốc – chữ “Phúc” bị dán ngược từ vương phủ đã lan truyền trong cả nước, rồi trở thành tập tục của người dân Trung Quốc, truyền mãi đến nay.

Ngày nay ở Trung Quốc, có một số gia đình vẫn thích dán ngược chữ “Phúc” trong dịp Tết. Họ hy vọng có ai đó đi qua sẽ buột miệng: “Fú dào le”; nhưng điều họ chờ mong hơn nữa, có lẽ là “được gặp” một đám trẻ hiếu động đi qua nhà, đồng thanh hét lên “Phúc đến rồi”… Phúc đến rồi….!!!”.

Trải qua năm tháng, chữ “Phúc” còn được nhiều nghệ nhân dân gian chế tác cầu kỳ thành các loại mẫu hoa văn. Trên nền chữ “Phúc”, họ vẽ một trong 12 con giáp ứng với mỗi năm, hoặc họ miêu tả Đào trường thọ (Thọ đào), Ông Thọ (Thọ tinh), Cá chép vượt cửa rồng (Lý ngư khiêu long môn), Cảnh được mùa (Ngũ cốc phong đăng), v.v…

 

,

Bài viết cùng chuyên mục

  • Trung thu năm 2019 là ngày bao nhiêu dương lịch
  • Nguồn gốc và ý nghĩa của tết trung thu theo phong tục người Việt
  • Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Trung thu cổ truyền không phải ai cũng biết
  • Nguồn gốc tục cúng cô hồn và lễ Vu Lan trong rằm tháng 7 âm lịch
  • Rằm tháng 7 nên cúng cô hồn vào giờ nào?
Thư viện tổng hợp
Tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa, nội dung của Bát Nhã Tâm Kinh
Đặt câu hỏi
  • Hình thức tư vấn
  • Online
  • Mail
|